Archive

Tháng Hai 2022

Browsing
(VNF) – Mặc dù POW đặt mục tiêu lợi nhuận ròng giảm một nửa trong năm 2022, tuy nhiên VND vẫn kỳ vọng doanh nghiệp điện này sẽ thu về 1.764 tỷ đồng, gần như đi ngang so với năm 2021.

Cổ phiếu khuyến nghị hôm nay (18/2): POW, GIL và NLG

VND: Khuyến nghị trung lập đối với POW

Ba tháng cuối năm 2021, Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam – CTCP (PV Power, HoSE: POW) ghi nhận sản lượng điện giảm 38% so với cùng kỳ năm trước, xuống 2.522 triệu kWh, ảnh hưởng bởi phụ tải thấp tại miền Nam, dẫn đến sản lượng huy động thấp.

Trong quý, giá bán điện bình quân giảm 16% cùng kỳ do tỷ trọng sản lượng nhiệt điện giảm mạnh. Doanh thu theo đó cũng giảm 55% so với quý IV/2020, về còn 3.5998 tỷ đồng; doanh nghiệp ghi nhận lỗ gộp 326 tỷ đồng do giá khí tăng cao đã ăn mòn biên lãi gộp.

Đáng chú ý, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp quý IV giảm 184% cùng kỳ do POW ghi nhận khoản thanh toán nợ phải thu 742 tỷ đồng từ EVN, doanh thu tài chính tăng 28 lần do nhận cổ tức từ công ty con.

Sau cùng, POW báo lỗ ròng gần 63 tỷ đồng, giảm tới 106% cùng kỳ năm ngoái.

Lũy kế cả năm 2021, doanh thu giảm 17% cùng kỳ xuống 24.565 tỷ đồng do kết quả kém tại mảng nhiệt điện, dẫn đến lợi nhuận ròng giảm 25% chỉ còn 1.778 tỷ đồng.

Năm 2022, POW đặt mục tiêu lợi nhuận ròng 900 tỷ đồng, thấp hơn một nửa so với năm ngoái, trước những lo ngại về ngành điện tiếp tục gặp khó.

Tuy nhiên, trong báo cáo mới nhất, Công ty Chứng khoán VNDirect (VND) kỳ vọng doanh nghiệp sẽ có lãi ròng 1.764 tỷ đồng, gần như đi ngang so với năm 2021.

VND dự báo nhu cầu điện trong nước sẽ cao hơn, giúp sản lượng điện khí hồi phục 22% cùng kỳ và cải thiện biên lợi nhuận gộp thêm 2 điểm phần trăm.

VND nâng giá mục tiêu cho POW lên 28% so với báo cáo trước (đạt 19.200 đồng/cổ phiếu) do chuyển định giá DCF sang năm 2022 và điều chỉnh dự phóng EPS năm 2022-2023-2024 lần lượt giảm 37,1%, giảm 12,3% và tăng 29,6% cùng kỳ.

Động lực tăng giá là sản lượng được huy động nhiều hơn dự kiến. Rủi ro giảm giá là tiến độ hoàn thành Nhơn Trạch 3 và 4 lâu hơn kỳ vọng.

Yuanta: Khuyến nghị nắm giữ cổ phiếu GIL

Năm 2021, Công ty Cổ phần Sản xuất kinh doanh và Xuất nhập khẩu Bình Thạnh (Gilimex, HoSE: GIL) ghi nhận doanh thu 4.150 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 330 tỷ đồng, lần lượt tăng 20% và 6,6% so với thực hiện năm trước đó.

GIL đã thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2021 với 3.000 tỷ đồng doanh thu và 180 tỷ đồng lãi sau thuế. Như vậy, kết thúc năm tài chính doanh nghiệp hoàn thành 183% kế hoạch lợi nhuận năm.

Tại ngày 31/12/2021, tổng tài sản của GIL tăng 39% so với đầu năm lên 3.764 tỷ đồng. Trong đó, tài sản chủ yếu tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn với 1.241 tỷ đồng, chiếm 33% tổng tài sản; các khoản phải thu ngắn hạn đạt 1.021 tỷ đồng, chiếm 27% tổng tài sản; tồn kho đạt 749,5 tỷ đồng, chiếm 20% tổng tài sản và các tài sản khác.

Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Yuanta) nhận định, mức stock rating của cổ phiếu GIL ở mức 77 điểm cho thấy mức xếp hạng tăng trưởng là trung tính.

Đồ thị giá của GIL vừa đóng cửa tăng 5,3% và đạt mức cao nhất 52 tuần với khối lượng giao dịch tăng mạnh so với mức trung bình 20 phiên. Đồng thời, đồ thị giá vẫn đang trong giai đoạn biến động mạnh theo chiều hướng tích cực cho thấy đồ thị giá có thể sẽ tiếp tục xác lập các mức cao mới.

Ngoài ra, đồ thị tuần cũng có dấu hiệu thoát khỏi giai đoạn tích lũy cho nên Yuanta kỳ vọng dòng tiền sẽ cải thiện hơn ở những tuần giao dịch tới. Công ty chứng khoán này đang khuyến nghị nhà đầu tư có thể nắm giữ cổ phiếu GIL ở mức giá hiện tại.

ACBS: Khuyến nghị giữ NLG với giá mục tiêu 56.597 đồng/cổ phiếu

Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long (HoSE: NLG) kết thúc năm 2021 với doanh thu chưa kiểm toán là 5.206 tỷ đồng, tăng 135% so với năm trước và lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ là 1.071 tỷ đồng, tăng trưởng 28%, tương ứng với 100% và 90% dự phóng của Công ty Chứng khoán ACB (ACBS).

ACBS cho biết, lợi nhuận thấp hơn dự phóng chủ yếu do lợi ích cổ đông thiểu số cao hơn ước tính. Tăng trưởng năm 2021 chủ yếu đến từ số lượng căn được bàn giao tăng gấp đôi so với năm ngoái, đạt hơn 2.000 căn, phần lớn tại dự án Akari City (1.525 căn) và Southgate (507 căn);

NLG ghi nhận 423 tỷ đồng thặng dư từ việc định giá lại tài sản khi hợp nhất dự án Izumi sau khi mua thêm 30% cổ phần từ Keppel Land để nâng tỷ lệ sở hữu lên 65,1% trong quý I/2021;

Đồng thời nhận 361 tỷ đồng lợi nhuận tài chính khi hợp nhất dự án Southgate sau khi tăng tỷ lệ biểu quyết từ 50% lên 65% trong quý III/2021. Đây là khoản định giá lại tài sản còn lại chưa ghi nhận mà trước đây được hạch toán theo tiến độ bàn giao dự án.

ACBS nhận xét, tình hình bán hàng năm 2021 của NLG tăng trưởng vượt bậc so với năm 2020 với hơn 1.900 căn (tăng 71% cùng kỳ) và tổng giá trị hơn 6.800 tỷ đồng (tăng 81%), chủ yếu tại dự án Mizuki và Southgate với doanh số mỗi dự án khoảng 2.400 – 2.500 tỷ đồng.

Nếu cộng thêm lượng đặt chỗ cho 275 căn với tổng giá trị gần 2.000 tỷ đồng tại dự án Izumi trong tháng 11/2021, NLG bán được hơn 2.200 căn (tăng 95% cùng kỳ) với tổng giá trị hơn 8.800 tỷ đồng (tăng 132%).

Với thương hiệu tốt và các dự án hấp dẫn, ACBS dự phóng giá trị bán hàng năm 2022 đạt hơn 11.000 tỷ đồng, chủ yếu tại các dự án Mizuki, Southgate, Akari, Izumi và Cần Thơ 43ha.

Bên cạnh đó, NLG duy trì sức khỏe tài chính tốt với tỷ lệ nợ ròng/vốn chủ sở hữu là âm 1,8% vào cuối 2021 so với 20,1% vào cuối 2020 chủ yếu nhờ 2.000 tỷ đồng thu được từ đợt phát hành riêng lẻ 60 triệu cổ phiếu với giá 33.500 đồng/cổ phiếu vào tháng 9/2021 và số tiền thu được từ khách hàng khi bàn giao dự án Akari.

Do đó, công ty chứng khoán này khuyến nghị nhà đầu tư nắm giữ NLG với giá mục tiêu 56.597 đồng/cổ phiếu, cao hơn 3,2% so với thị giá hiện tại.

(VNF) – Sau khi Nga tuyên bố rút bớt quân lính khỏi biên giới Ukraine và tung cả đoạn phim làm bằng chứng, các quốc gia phương Tây và Mỹ, kiên quyết cho rằng thực chất Nga không hề làm đúng như tuyên bố, thậm chí còn đưa thêm binh lính tới biên giới với Ukraine.

Mỹ ‘tố’ Nga làm trái tuyên bố rút quân, đưa thêm 7.000 binh sĩ tới biên giới Ukraine

Một quan chức cấp cao của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden ngày 16/2 tiết lộ: “Không có binh lính Nga nào được rút khỏi biên giới với Ukraine. Ngược lại, có tới 7.000 binh lính được đưa tới biên giới Ukraine trong những ngày gần đây, bổ sung vào lực lượng vốn đã có khoảng 150.000 binh lính từ trước đó”.

Trong khi đó, trong một nỗ lực để chứng minh tuyên bố về việc rút quân một phần, Bộ Quốc phòng Nga đã công bố video cho thấy một đoàn tàu bọc thép di chuyển qua một cây cầu nối giữa bán đảo Crimea với đất liền.

Quan chức Mỹ nói thêm: “Nga luôn nói rằng họ muốn theo đuổi một giải pháp ngoại giao, nhưng hành động của họ cho thấy điều ngược lại. Chúng tôi hy vọng họ sẽ thay đổi hướng đi trước khi bắt đầu một cuộc chiến sẽ mang lại cái chết và sự hủy diệt thảm khốc”.

Ngoại trưởng Mỹ Atony Blinken cũng xác nhận thông tin trên với MSNBC: “Chúng tôi tiếp tục thấy các quân đoàn tiến về biên giới chứ không phải ra khỏi biên giới. Chúng tôi đã không thấy bất kỳ sự thoái lui nào từ lực lượng của họ”.

Không chỉ Mỹ, mà các nhà lãnh đạo châu Âu cũng tỏ ra hết sức dè chừng trước tuyên bố rút quân của Nga. Bộ trưởng Ngoại giao Ukraine Dmytro Kuleba đã “tweet” rằng “tuyên bố về việc rút quân là không đủ. Chúng tôi cần sự minh bạch và sự thật ”.

Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg nói với các phóng viên tại Brussels rằng trên thực tế, Nga đã “tăng quân số và nhiều quân hơn đang được đưa tới biên giới”. Ông Stoltenberg nói Nga có một “lực lượng xâm lược khổng lồ sẵn sàng tấn công với khả năng cao cấp từ Crimea đến Belarus”, đồng thời lưu ý rằng đây là lực lượng lớn nhất ở châu Âu kể từ sau Chiến tranh Lạnh.

NATO đã gửi “đề xuất cụ thể” về tính minh bạch, giảm thiểu rủi ro và kiểm soát vũ khí nhưng chưa nhận được phản hồi từ Nga, tổng thư ký NATO cho biết thêm.

Tổng thống Joe Biden cho biết “khả năng cao” Nga có thể tấn công Ukraine, đồng thời cảnh báo việc này cũng dẫn đến giá năng lượng của Mỹ tăng đột biến.

Trong một diễn biến liên quan, trong ngày 15/2, một loạt các cuộc tấn công mạng đã đánh sập các trang web của quân đội Ukraine, bộ quốc phòng và các ngân hàng lớn. Ilya Vityuk, người đứng đầu bộ phận an ninh mạng của cơ quan an ninh nhà nước Ukraine, cho biết trong một cuộc họp báo đã đưa ra “dấu vết của các dịch vụ tình báo nước ngoài”, nhằm ám chỉ Nga đứng sau vụ tấn công.

Ông Vityuk nói rằng Nga là quốc gia “quan tâm đến các cuộc tấn công bằng hình ảnh như vậy” để chống lại Ukraine, nhưng ông và các quan chức khác kết luận rằng họ không đổ lỗi cho Moscow – vốn đã phủ nhận liên quan đến cuộc tấn công này và luôn phủ nhận việc lên kế hoạch xâm lược.

(VNF) – Công ty bất động sản Knight Frank vừa chính thức thành lập công ty liên doanh tại Việt Nam, đặt trụ sở tại TP. HCM.

Knight Frank thành lập công ty mới tại Việt Nam

Theo đó, Knight Frank Việt Nam Property Services sẽ hoạt động dưới sự dẫn dắt của ông Alex Crane, Giám đốc điều hành và là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực bất động sản. Được biết, ông Alex Crane đã có nhiều năm sinh sống và làm việc tại Việt Nam.

Giám đốc điều hành Knight Frank khu vực châu Á – Thái Bình Dương, ông Kevin Coppel cho biết Việt Nam là một thị trường hấp dẫn với những yếu tố thuận lợi như dân số trẻ với trình độ cao, sở hữu vị trí địa lý chiến lược trong việc hỗ trợ chuỗi cung ứng khu vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng nể, số lượng cá nhân giàu có ngày càng tăng, và đang trở thành thị trường quan trọng đối với khách hàng quốc tế của Knight Frank.

Công ty này cũng nhận định thị trường bất động sản Việt Nam vẫn phát triển nhanh chóng cùng nguồn vốn đầu tư nước ngoài đáng kể bất chấp khó khăn vì dịch Covid-19.

Theo Knight Frank, vị trí quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu đã giúp thúc đẩy các ngành dịch vụ tại địa phương phát triển, dẫn đến việc giá đất công nghiệp tăng trung bình 8% mỗi năm và đối với thị trường văn phòng cho thuê đang ngày càng phát triển tại TP. HCM và Hà Nội, tỷ lệ lấp đầy được duy trì ở mức 90%.

Thị trường nhà ở cao cấp tại Việt Nam được cho là vẫn tiếp tục tăng mạnh khi giá căn hộ tại TP. HCM tăng trung bình khoảng 19% so với năm trước, lên mức 2.800 USD/m2.

Phía Knight Frank cho biết dịch vụ trọng tâm của công ty này tại Việt Nam là môi giới bất động sản văn phòng, công nghiệp và logistics, thị trường vốn và đầu tư cùng với dịch vụ tư vấn và nghiên cứu thị trường, nhằm hướng đến việc hỗ trợ các đối tượng là chủ sở hữu người Việt và người nước ngoài, khách thuê, nhà đầu tư trên mọi phương diện của bất động sản thương mại tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực TP. HCM và Hà Nội.

Được biết, Knight Frank là tập đoàn tư vấn bất động sản độc lập lớn trên thế giới với lịch sử 125 năm hoạt động trong lĩnh vực này. Đặt trụ sở chính tại London, Knight Frank có hơn 16.000 nhân viên đang làm việc tại 384 văn phòng trên 51 vùng lãnh thổ. Tập đoàn hoạt động với mục tiêu cố vấn cho các khách hàng từ người bán và người mua đơn lẻ đến các nhà phát triển, nhà đầu tư và doanh nghiệp cho thuê lớn.

(VNF) – Theo CNBC, những diễn biến căng thẳng gần đây tại biên giới Nga-Ukraine chính là yếu tố giúp ngành dầu khí của Mỹ hưởng lợi.

Ngành dầu khí Mỹ là ‘ngư ông đắc lợi’ trước căng thẳng Nga – Ukraine

Giống như nhiều ngành sản xuất khác, ngành công nghiệp dầu khí Mỹ đã bị “nghiền nát” bởi đại dịch Covid-19 vào đầu năm 2020. Giá dầu giảm và giá dầu thô kỳ hạn thậm chí còn giảm sâu trong một thời gian ngắn.

Tuy nhiên, ngành công nghiệp dầu khí Mỹ đã dần phục hồi trở lại nhờ giá dầu tăng, được thúc đẩy bởi những lời “đe dọa” của tổng thống Nga Putin đối với Ukraine. Giá dầu – vốn đã tăng hơn 50% lên mức trên 90 USD/thùng đã bị đẩy lên mức cao nhất trong 7 năm ngay đầu năm 2022 và tiếp tục giữ mức giá cao vì căng thẳng Nga – Ukraine chưa “hạ nhiệt”.

Nguồn cung thắt chặt ở châu Âu

Trước đây, Nga là nhà cung cấp cả dầu và khí đốt tự nhiên lớn nhất cho châu Âu, còn Mỹ từ lâu đã cảnh báo rằng việc kiểm soát các nguồn năng lượng quan trọng của họ có thể trở thành mối nguy hiểm đối với người tiêu dùng châu Âu.

Quả thực, tới thời điểm căng thẳng leo thang, cả thế giới mới nhận thức sâu sắc về lời cảnh báo của Mỹ. Năng lượng rõ ràng là trung tâm của cuộc xung đột.

Giá khí đốt tự nhiên của châu Âu đã tăng vọt trong suốt mùa đông do lo ngại về nguồn cung thiếu hụt do khu vực này không thể đưa đủ khí tự nhiên vào kho và do Nga cắt giảm một số nguồn cung bắt đầu từ mùa thu. Không chỉ vậy, giá dầu còn bị tác động mạnh theo từng tình tiết của căng thẳng giữa Nga – Ukraine.

Nga gửi khí đốt tự nhiên đến châu Âu thông qua các đường ống chạy qua Ukraine và các đường ống khác, bao gồm Nord Stream 1. Đường ống Nord Stream 2, được xây dựng để đưa khí đốt từ Nga đến Đức, đã hoàn thành nhưng vẫn đang bị “treo” do căng thẳng leo thang. Ngày 15/2, ông Biden nhắc lại rằng nếu Nga xâm lược Ukraine, đường ống dẫn dầu đó sẽ không được phép hoạt động.

Trong một diễn biến gần đây nhất, khi Nga tuyên bố rút bớt quân khỏi biên giới Ukraine, giá dầu đã lập tức giảm nhẹ, sau đó tăng trở lại khi NATO và Mỹ tuyên bố Nga thực chất đang tăng thêm số quân đóng tại biên giới, thay vì rút quân như tuyên bố trước đó.

Nếu Nga “động binh”, Mỹ và các đồng minh có kế hoạch áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với nước này và các nhà phân tích cho rằng tình huống xấu nhất đối với nguồn cung năng lượng sẽ là các lệnh trừng phạt chặn việc bán năng lượng của Nga cho châu Âu hoặc Nga cắt nguồn cung để trả đũa.

Điều này xảy ra khi nhu cầu dầu toàn cầu đang trở lại bình thường và dự kiến sẽ tăng nhiều hơn vào mùa hè này khi việc đi lại bằng đường hàng không được cải thiện.

“Cửa thoát hiểm” cho Mỹ

Trước đại dịch, Mỹ là nước sản xuất cả dầu và khí đốt lớn nhất thế giới, đồng thời là “ông lớn” xuất khẩu dầu. Theo dữ liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng, Mỹ đã xuất khẩu trung bình 2,6 triệu thùng dầu/ngày trong 4 tuần qua và 4,2 triệu thùng sản phẩm tinh chế, bao gồm xăng và dầu diesel.

Ngành công nghiệp năng lượng Mỹ cũng đã được chứng minh là một nhà cung cấp thay thế quan trọng cho người châu Âu. Vì vậy, khi nguồn cung khí đốt tới châu Âu bị gián đoạn, Mỹ ngay lập tức trở thành “cứu cánh” cho khu vực này, đồng thời trực tiếp kích thích ngành công nghiệp dầu khí trong nước.

Vào tháng 1/2022, các tàu chở đầy khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Mỹ đã được chuyển hướng từ châu Á và Nam Mỹ đến các cảng châu Âu. Theo IHS, nhập khẩu LNG tăng 80% so với cùng kỳ năm ngoái có nghĩa là lần đầu tiên Mỹ cung cấp nhiều khí đốt tự nhiên hơn cho châu Âu so với Nga.

IHS Markit tính toán rằng 7,73 tỷ m3 khí đốt của Mỹ đã được vận chuyển đến châu Âu vào tháng 1/2022, so với 7,5 tỷ m3 thông qua các đường ống của Nga.

“Đây là mức LNG của Mỹ tới châu Âu cao nhất mà chúng tôi từng thấy, và chúng tôi kỳ vọng mức xuất khẩu khí đốt từ Mỹ sang châu Âu sẽ tiếp tục giữ ở mức cao (khoảng 5 triệu tấn) trong tháng 2/2022”, các nhà phân tích nói với CNBC.

Mặc dù LNG của Mỹ đang giúp châu Âu vượt qua mùa đông, nhưng điều này không đủ để thay thế cho nguồn khí đốt từ Nga.

Theo Dan Yergin, phó chủ tịch IHS Markit: “Châu Âu rơi vào khủng hoảng năng lượng trước cuộc khủng hoảng Ukraine. Nhưng sự khác biệt giữa hiện tại so với thời điểm năm 2009 – khi người Nga làm gián đoạn dòng khí đốt qua Ukraine, là hệ thống đường ống của châu Âu đã linh hoạt hơn nên có thể nhận hay vận chuyển LNG từ nhiều nơi hơn ngoài Nga. Chỉ vài năm trước, việc bù đắp LNG nếu nguồn cung từ Nga bị hạ thấp gần như bất khả thi”.

Mỹ đang vực dậy ngành dầu mỏ từng “thoi thóp”

Đồng thời, ngành công nghiệp dầu mỏ Mỹ dự kiến sẽ tăng sản lượng khai thác ước tính khoảng 900.000 thùng/ngày trong năm nay, Yergin nói. Ngành công nghiệp hiện sản xuất khoảng 11,6 triệu thùng/ngày và có thể quay trở lại mức trước đại dịch là 13 triệu thùng/ngày vào năm 2023.

Bằng chứng về việc mở rộng sản xuất của ngành công nghiệp dầu mỏ là sự gia tăng số lượng giàn khoan trên khắp đất nước. Theo Baker Hughes, tổng số giàn khoan trong ngành dầu khí hiện có 516 giàn, tăng 19 giàn trong tuần trước – mức tăng lớn nhất trong 4 năm.

Theo người sáng lập Again Capital John Kilduff cho rằng ngành công nghiệp Mỹ có thể sẽ sớm chứng kiến sự gia tăng đáng ngạc nhiên về sản lượng dầu, vì các công ty đã mở các giếng khoan mới.

Dan Pickering, Giám đốc đầu tư của Pickering Energy Partners cho biết, sản lượng dầu của Mỹ đang tăng lên, nhưng các công ty Mỹ vẫn chưa khai thác hết tốc độ vì áp lực từ các cổ đông. Các công ty đã và đang trả nợ, tăng cổ tức và tìm cách giảm sản lượng carbon của họ, dưới sự giám sát của các nhà đầu tư ESG về môi trường, xã hội, quản trị.

Ông Pickering cho biết giá dầu tương lai có thể ở mức 68 USD/thùng trong 5 năm tới, một mức giá tốt và chắc chắn thấp hơn mức 90 USD.

“Vì vậy, ngành công nghiệp có thêm một mùa xuân trong bước đi của mình. Hãy nhớ rằng họ đã gặp rắc rối lớn vào năm 2020, rất nhiều công ty đã phá sản hoặc trở nên thu hẹp. Nhưng mọi thứ đang trở nên tốt đẹp hơn”, giám đốc Pickering Energy Partners khẳng định.

Không thể phủ nhận rằng chính sách giảm thuế 2% giá trị gia tăng (VAT) sẽ giúp các doanh nghiệp, người dân giảm bớt một phần khó khăn về kinh tế, đồng thời tạo đà phục hồi trước ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều vướng mắc.

'Rối như canh hẹ' khi triển khai giảm thuế VAT: Gỡ cách nào?

“Rối tơ vò” khi thực hiện giảm thuế VAT

Việc giảm thuế VAT được thực hiện theo Nghị quyết số 43 của Quốc hội và Nghị định số 15 của Chính phủ ban hành ngày 28/1. Chính sách này áp dụng với tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh không phân biệt phương pháp tính thuế khấu trừ hay tính tỉ lệ % trên doanh thu.

Đây là lần đầu tiên thuế VAT được giảm đồng bộ từ khâu nhập khẩu, sản xuất đến gia công, tiêu dùng, có tác dụng trực tiếp giúp người tiêu dùng mua sắm tiết kiệm và giúp kích thích tái đầu tư sản xuất kinh doanh với đầu vào của nguyên vật liệu hoặc tái mua thêm hàng hóa tiêu dùng.

Trao đổi với Báo Lao Động, ông Phạm Quốc Việt, giám đốc Công ty TNHH MACT Việt Nam (hoạt động trong lĩnh vực tư vấn thuế, kế toán và pháp lý) cho hay, không thể phủ nhận rằng chính sách này sẽ giúp đỡ các doanh nghiệp, người dân giảm bớt một phần khó khăn về kinh tế và đồng thời cũng tạo đà phục hồi trước ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

Tuy nhiên, do Nghị định 15 mới có hiệu lực từ 1/2 nên trong quá trình thực hiện, doanh nghiệp đang gặp phải hàng loạt vấn đề và lúng túng khi áp dụng.

Thứ nhất, doanh nghiệp không nắm rõ mặt hàng kinh doanh của mình có thuộc danh mục hàng hóa dịch vụ áp dụng Nghị định không. Đặc biệt, một số doanh nghiệp gặp vướng mắc trong việc tra cứu mã ngành kinh doanh của mình có thuộc “Phụ lục I- Danh mục hàng hóa, dịch vụ không được giảm thuế GTGT” hay không. Ngoài ra, việc tra cứu một số mã HS ở khâu nhập khẩu cũng gặp khó khăn.

Thứ hai, một số trường hợp dễ gây hiểu lầm trong vấn đề áp dụng thuế suất GTGT của nguyên vật liệu đầu vào và thuế GTGT của sản phẩm đầu ra, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất.

Cụ thể, nguyên vật liệu nhập khẩu của doanh nghiệp không được giảm thuế GTGT trong khi sản phẩm của doanh nghiệp lại được giảm thuế GTGT (do sản phẩm không thuộc Phụ lục I nêu trên) thì sản phẩm của doanh nghiệp đó có được hưởng giảm thuế GTGT hay không? Lý do là Nghị định 15 quy định việc giảm thuế áp dụng thống nhất từ khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công, kinh doanh thương mại.

Thứ ba, các hàng hóa được bàn giao và dịch vụ được hoàn thành trước thời điểm Nghị định 15 có hiệu lực (1/2/2022) nhưng chưa được xuất hóa đơn, do đối soát công nợ sau ngày 1/2/2022, do nghỉ lễ Tết hoặc các lý do khách quan khác, thì hàng hóa, dịch vụ đó có được giảm thuế GTGT xuống 8% hay không? Hiện vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung này.

Chị Nguyễn Thuý Nga, kế toán của một doanh nghiệp trong lĩnh vực sản phẩm nông nghiệp ở miền Nam cho biết, hiện doanh nghiệp của chị đang gặp khó khăn trong việc xác định mã sản phẩm áp dụng mức thuế.

Bởi, khi xuất hóa đơn hàng hóa ở khu vực miền Nam thì được áp mức thuế 8%, nhưng nếu mỗi khu vực, vùng miền có cách xác định mã sản phẩm khác nhau, nơi thì được áp 8%, nơi giữ nguyên 10%. Điều này khiến chị loay hoay suốt thời gian qua.

“Việc không thống nhất trong cách áp dụng mã sản phẩm ảnh hưởng khá lớn đến doanh nghiệp đang hoạt động. Chúng tôi mong Bộ Tài chính sớm có thông tư hướng dẫn cụ thể để doanh nghiệp dễ tiếp cận, tra soát chính xác hơn, bảo đảm theo quy định của pháp luật”, chị Nga nói.

Gỡ khó bằng cách nào?

Khi được hỏi, có nên giảm thuế VAT đồng loạt xuống còn 8% với tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ không?, ông Phạm Quốc Việt cho rằng, với các chính sách mới được ban hành, chắc chắn Chính phủ cũng đã tham khảo ý kiến của nhiều ban ngành và khảo sát các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, cũng như đánh giá các tác động tích cực và tiêu cực đối với nền kinh tế trước khi đưa Chính sách vào thực hiện.

Do đó, chính sách đưa ra mới không giảm toàn bộ thuế GTGT của tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ xuống 8%.

“Việc đưa chính sách mới vào cuộc sống sẽ có những khó khăn nhất định trong quá trình thực hiện. Do đó, việc đồng hành và hỗ trợ giải đáp vướng mắc từ cơ quan thuế trong quá trình thực thi là vô cùng cần thiết. Chính phủ cần đưa ra các hướng dẫn cụ thể để việc thực thi Chính sách được hiệu quả hơn.

Bên cạnh đó, các chế tài phạt được đưa ra do áp dụng không đúng chính sách, theo ông Việt “là cần thiết để chính sách được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả nhằm đạt đến mục tiêu mà Chính phủ đã tính toán và hướng tới”, ông Việt nói.

Vị này cũng khuyến nghị, ngành thuế cũng có thể tổ chức những buổi hội thảo cập nhật, tuyên truyền chính sách mới cho người nộp thuế và tiếp thu ý kiến vướng mắc của các doanh nghiệp, hộ cá nhân kinh doanh và người dân trong quá trình thực hiện chính sách để đưa ra các giải đáp và hướng dẫn cụ thể cần thiết.

Tintucthitruong.net – Trong thời đại hiện nay như ngày nay, thì việc vay vốn từ các ngân hàng hoặc những tổ chức tín dụng đã không còn quá xa lạ đối với hầu hết nhiều người. Khi vay vốn thường thì sẽ có lãi suất và thời gian để thanh toán được những khoản vay. Bên cạnh đó, còn có một yếu tố quyết định đến việc các cá nhân, tổ chức sẽ có thể vay vốn hoặc không đó được xem là việc xác định được những khả năng trả nợ hay còn gọi là tỷ số khả năng trả nợ của khách hàng. Đây được xem là 1 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến nguồn thu và sự tồn tại của ngân hàng.

Vậy Tỷ số khả năng trả nợ là gì? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu ngay sau đây nhé!

Tỷ số khả năng trả nợ (DSCR) là gì?

Chỉ số khả năng trả nợ (DSCR) trong tài chính doanh nghiệp, là thước đo dòng tiền có sẵn để thanh toán các nghĩa vụ nợ hiện tại.

Tỷ số khả năng trả nợ (DSCR) là gì?

Tham khảo thêm: 6 Bước tiến trình để phát triển ma trận QSPM

Chỉ số này cho biết thu nhập hoạt động ròng là bội số của các nghĩa vụ nợ trong vòng một năm, bao gồm cả chi phí lãi vay, tiền nợ gốc, các quĩ chìm và các khoản thanh toán cho thuê. Trong tài chính chính phủ, chỉ số khả năng trả nợ là thu nhập từ hoạt động xuất khẩu cần thiết để đáp ứng các khoản thanh toán lãi và gốc hàng năm cho các khoản nợ bên ngoài của một quốc gia. Trong tài chính cá nhân, chỉ số khả năng trả nợ là chỉ số được sử dụng bởi các nhân viên cho vay của ngân hàng để xác định các khoản vay đảm bảo bằng thu nhập.  Trong mỗi trường hợp, chỉ số này phản ánh khả năng trả nợ trên một mức thu nhập cụ thể.

  • Trong tài chính chính phủ, chỉ số khả năng trả nợ là thu nhập từ hoạt động xuất khẩu cần thiết để đáp ứng các khoản thanh toán lãi và gốc hàng năm cho các khoản nợ bên ngoài của một quốc gia.
  • Trong tài chính cá nhân, chỉ số khả năng trả nợ là chỉ số được sử dụng bởi các nhân viên cho vay của ngân hàng để xác định các khoản vay đảm bảo bằng thu nhập.

Trong mỗi trường hợp, chỉ số này phản ánh khả năng trả nợ trên một mức thu nhập cụ thể.

Công thức tính tỷ số khả năng trả nợ (DSCR)

Công thức tính chỉ số khả năng trả nợ yêu cầu có được thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh và tổng nợ phải trả của công ty.
Thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh là doanh thu của công ty, trừ chi phí hoạt động, không bao gồm thuế và các khoản thanh toán lãi, còn gọi là thu nhập trước lãi suất và thuế (EBIT).

Theo đó, Công thức tính tỷ số khả năng trả nợ như sau:

DSCR = (Thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh – Chi phí hoạt động)/Tổng nợ phải trả

Trong đó:

  • Tổng nợ phải trả = Lãi vay * (1 – Thuế TNDN) + Nợ gốc
  • Thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh chính là doanh thu của doanh nghiệp không bao gồm thuế, chi phí hoạt động và các khoản thanh toán lãi

Ý nghĩa chỉ số DSCR

Dựa vào công thức tính chỉ số khả năng trả nợ, ta có thể thấy được các ý nghĩa của chỉ số này. Người cho vay sẽ thường xuyên đánh giá chỉ số khả năng trả nợ của người vay trước khi cho vay.

Cụ thể như sau:

  • Nếu như DSCR lớn hơn 1 nghĩa là khả năng trả nợ của doanh nghiệp đó khá tốt. Tuy rằng trên lý thuyết thì tỷ số khả năng trả nợ càng cao đồng nghĩa với việc khả năng trả nợ của doanh nghiệp tốt nhưng nếu quá cao sẽ cho thấy thực trạng về việc quản lý và luân chuyển vốn lưu động chưa hiệu quả.
  • Nếu DSCR nhỏ hơn 1 nghĩa là dòng tiền âm, doanh nghiệp vay vốn sẽ không thể thanh toán các khoản nợ hiện tại mà không dựa vào các nguồn lực bên ngoài như đi vay mượn, thế chấp…
  • Nếu DSCR bằng 1, khi đó chỉ cần một biến động nhỏ trong dòng tiền hoặc có tác động không tốt từ bên ngoài cũng khiến doanh nghiệp khó có khả năng thanh toán khoản nợ.

Để có cái nhìn khách quan và chính xác về doanh nghiệp vay vốn, không nên đánh giá chỉ qua tỷ số khả năng trả nợ mà còn cần kết hợp với các chỉ số tài chính khác như tình hình của nền kinh tế vĩ mô, nguồn lực bên ngoài…

Ví dụ cụ thể về chỉ số khả năng trả nợ

Để có thể dễ hình dung hơn về chỉ số khả năng trả nợ, chúng ta hãy cùng phân tích một ví dụ dưới đây:

Giả sử một nhà phát triển bất động sản đang tìm cách vay thế chấp từ một ngân hàng địa phương. Người cho vay sẽ muốn tính toán DSCR để xác định khả năng của nhà phát triển vay và trả hết khoản vay của mình với nguồn thu nhập từ tài sản cho thuê.

Nhà phát triển chỉ ra rằng, thu nhập từ hoạt động cho thuê của anh ta sẽ là $2.150.000 mỗi năm và người cho vay yêu cầu phải thanh toán nợ $350.000 mỗi năm. Do đó, chỉ số khả năng trả nợ của anh ta được tính là:

DSCR = $2.150.000 / $350.000 = 6.14

Điều này có nghĩa là người đi vay đảm bảo khả năng trả nợ của mình.

Các chỉ số đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại nếu nó đáp ứng được các nghĩa vụ thanh toán đến hạn, đặc biệt là các khoản nợ ngắn hạn.

Nhóm chỉ số dùng để đánh giá khả năng thanh toán của một doanh nghiệp gồm có 6 chỉ số chính. Dựa vào kết quả của các chỉ số, ta có thể nhìn ra năng lực tài chính của doanh nghiệp đó có đang tốt hay không.

Các chỉ số đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Thứ nhất, Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:

Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, chúng ta cần chú ý đến hệ số khả năng thanh toán tổng quát. Hay còn gọi là hệ số khả năng thanh toán hiện hành. Chỉ số này phản ánh tổng quát nhất năng lực thanh toán của doanh nghiệp trong ngắn và dài hạn. Công thức tính:

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản/Nợ phải trả

Thứ hai, Hệ số khả năng thanh toán hiện thời:

Hay còn gọi là hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn, Tỷ lệ thanh khoản hiện thời, Hệ số thanh toán hiện hành… . Công thức tính:

Hệ số khả năng thanh toán hiện thời = Tài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạn

Hệ số này cần được đánh giá dựa vào tỷ số trung bình của các doanh nghiệp trong cùng ngành. Ngoài ra, căn cứ quan trọng để đánh giá là so sánh với hệ số khả năng thanh toán hiện thời ở các thời điểm trước đó của doanh nghiệp

Thứ ba, hệ số khả năng thanh toán nhanh:

Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, các nhà quản trị cũng cần biết được hệ số thanh toán nhanh của doanh nghiệp đó. Hệ số này còn được gọi là tỷ lệ thanh toán nhanh… . Trong tỷ số này, hàng tồn kho sẽ bị loại bỏ, bởi lẽ trong tài sản lưu động, hàng tồn kho được coi là loại tài sản có tính thanh khoản thấp hơn. Tỷ số thể hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp mà không cần thực hiện thanh lý gấp hàng tồn kho. Công thức tính:

Hệ số thanh toán nhanh = (Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho) / Nợ ngắn hạn

Thứ năm, Hệ số khả năng thanh toán lãi vay

Hay còn gọi là Tỷ lệ thanh toán lãi vay hay Hệ số thanh toán lãi nợ vay. Hệ số phản ánh khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp cũng như mức độ rủi ro có thể gặp phải của các chủ nợ. Công thức:

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế / Lãi vay phải trả trong kỳ

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay là một trong những chỉ tiêu mà bên cho vay (ngân hàng) rất quan tâm khi thẩm định vay vốn của khách hàng. Do đó, chỉ số này ảnh hưởng rất lớn đến xếp hạng tín nhiệm và lãi suất vay vốn của doanh nghiệp. Việc đảm bảo trả lãi các khoản vay đúng hạn cũng thể hiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tốt và ngược lại.

Thứ sáu: Hệ số khả năng chi trả ngắn hạn

Hay còn gọi là hệ số khả năng chi trả bằng tiền, hệ số tạo tiền,… Công thức:

Hệ số khả năng chi trả bằng tiền = Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh / Nợ ngắn hạn bình quân

Hệ số khả năng chi trả ngắn hạn phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp ở trạng thái động, do dòng tiền lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh được tạo ra trong kỳ mà không phải số dư tại một thời điểm. Hệ số này sẽ giúp các nhà quản trị đánh giá khả năng hoàn trả nợ vay đến hạn từ bản thân hoạt động kinh doanh mà không có thêm các nguồn tài trợ khác của doanh nghiệp.

Kết luận

Trên đây là những thông tin về Tỷ số khả năng trả nợ (DSCR) là gì, và Các chỉ số đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Chúc các bạn sẽ thành công!

Tintucthitruong.net – Ma trận QSPM được xem là một trong những loại ma trận được dùng để có thể giúp cho các nhà kinh doanh chọn ra chiến lược đúng đắn cho công ty của mình.

Vậy Ma trận QSPM là gì? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu ngay sau đây nhé!

Ma trận QSPM là gì?

Ma trận QSPM là ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (Quantitative Strategic Planning Matrix- QSPM). Sau khi chúng ta sử dụng ma trận SWOT để xây dựng ra các chiến lược phù hợp, các nhà quản trị sẽ lần lượt liệt kê ra một danh sách các chiến lược khả thi mà DN có thể thực hiện trong thời gian tới. Trong thời kỳ này, một công cụ có thể hỗ trợ để lựa chọn cho chiến lược đó chính là ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng.

Ma trận QSPM sử dụng các dữ liệu đầu vào từ những phân tích ở các bước hình thành ma trận IFE và EFE để giúp các chiến lược gia quyết định khách quan chiến lược nào trong số các chiến lược có khả năng thay thế là chiến lược hấp dẫn nhất và xứng đáng nhất để doanh nghiệp theo đuổi nhằm thực hiện thành công các mục tiêu của mình.

Biểu diễn ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (QSPM Matrix)

Ma trận QSPM yêu cầu bạn dựng lại tầm quan trọng của các nguyên nhân sự phát triển cần thiết trong và ngoài doanh nghiệp và giúp bạn phân tích các kế hoạch này dựa trên các nguyên nhân thành đạt quan trọng nêu trên. Tầm tác động được đánh giá bằng điểm số. kế hoạch có điểm số cao nhất thường là lựa chọn tốt nhất.

Biểu diễn ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (QSPM Matrix)

Tham khảo thêm: Những mối quan hệ đối ứng trong tài khoản kế toán

6 Bước tiến trình để phát triển ma trận QSPM

Để hoạch định chiến lược phát triển doanh nghiệp đi đúng hướng, người chủ thường theo thứ tự 6 bước ma trận QSPM để từ đó quyết định đến lựa chọn hình thức kinh doanh của mình.

Bước 1: Liệt kê các cơ hội/mối đe dọa lớn bên ngoài và các điểm mạnh/yếu quan trọng bên trong vào cột (1) của ma trận. Các yếu tố này được lấy trực tiếp từ các ma trận EFE và IFE.

Bước 2: Nghiên cứu các ma trận SWOT và xác định các chiến lược có thể thay thế mà tổ chức nên xem xét để thực hiện, ghi lại các chiến lược này vào hàng trên cùng của ma trận QSPM. Các chiến lược được xếp thành các nhóm riêng biệt nhau (nếu có)

6 Bước tiến trình để phát triển ma trận QSPM

Bước 3: Xác định số điểm hấp dẫn: Rất không hấp dẫn = 1, ít hấp dẫn = 2, hấp dẫn = 3, khá hấp dẫn = 3, rất hấp dẫn = 4. Các trị số này biểu thị tính hấp dẫn tương đối của mỗi chiến lược so với các chiến lược khác trong cùng một nhóm các chiến lược có thể thay thế.

Bước 4: Tính tổng số điểm hấp dẫn của mỗi chiến lược xét riêng đối với từng yếu tố thành công quan trọng ghi ở cột (1) bằng cách nhân số phân loại với số điểm hấp dẫn trong mỗi hàng.

Bước 5: Cộng dồn các số điểm hấp dẫn cho ta tổng số điểm hấp dẫn của mỗi chiến lược (xét đến tất cả các yếu tố bên trong và bên ngoài thích hợp có thể ảnh hưởng tới các quyết định chiến lược). Tổng số điểm này càng cao thì chiến lược càng thích hợp và càng đáng được lựa chọn để thực hiện.

Bước 6: Về nguyên tắc, một ma trận QSPM có thể bao gồm bất cứ số lượng nhóm các chiến lược thay thế nào và trong một nhóm nhất định có thể bao gồm bất cứ số lượng chiến lược nào, nhưng chỉ có những chiến lược trong cùng một nhóm mới được đánh giá với nhau.

Chẳng hạn, một nhóm chiến lược đa dạng hóa có thể bao gồm các chiến lược đa dạng hóa đồng tâm, đa dạng hóa kết khối, trong khi một nhóm chiến lược khác có thể bao gồm các chiến lược liên kết theo chiều dọc (về phía trước hay về phía sau) và liên kết theo chiều ngang. Các nhóm chiến lược này là khác nhau và ma trận QSPM chỉ đánh giá các chiến lược trong cùng một nhóm.

Ví dụ

Để cho bạn dễ hiểu về ma trận QSPM chúng tôi sẽ ví dụ cho bạn nhằm mục đích giúp bạn có quyết sách kinh doanh khi khởi nghiệp.

Công ty XYZ là một doanh nghiệp nhỏ đang phát triển và muốn mở rộng. Dựa trên các nhân tố quan trọng bên trong và bên ngoài, công ty đã đưa ra hai chiến lược loại trừ lẫn nhau:

  • Mở rộng bằng cách sử dụng nhượng quyền kinh doanh
  • Mở rộng kinh doanh cơ sở hiện tại.

Công ty XYZ đã sử dụng biểu đồ ma trận QSPM này để xác định lựa chọn tốt hơn.

Chiến lược thay thế
Mở rộng bằng cách nhượng quyền Mở rộng cơ sở hiện tại
Nhân tố bên ngoài Trọng số AS WAS AS WAS
Cơ hội
1. Tận dụng lợi thế của

“người đi đầu”

0.10 4 0.40 2 0.20
2. Tận dụng tốc độ tăng trưởng thị trường dự kiến 30%/ năm. 0.20 4 0.80 2 0.20
3. Xây dựng nhận thức về danh mục sản phẩm. 0.10 4 0.40 2 0.20
4. Khai thác cơ sở khách hàng mới. 0.25 4 1.00 1 0.25
Thách thức
1. Tối thiểu hóa việc chia sẻ lợi nhuận với người trung gian 0.15 1 0.15 4 0.60
2. Có thể bị vi phạm IP bởi bên nhận quyền 0.10 1 0.10 4 0.40
3. Tối thiểu hoá sự xâm nhập của đối thủ cạnh tranh mới vào thị trường 0.10
Tổng 1.00
Nhân tố bên trong chính Trọng số AS WAS AS WAS
Điểm mạnh
1. Phát triển đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm 0.10 2 0.20 4 0.40
2. Xây dựng thế mạnh R & D trong phát triển sản phẩm 0.10
3. Tinh chỉnh việc nâng cấp hệ thống CNTT mới 0.10 2 0.20 4 0.40
4. Xây dựng đội ngũ quản lý mạnh 0.15 3 0.45 4 0.60
Điểm yếu
1. Tăng cường khả năng vay vốn hạn chế 0.25 4 1.00 2 0.50
2. Cải thiện cơ chế phản hồi khách hàng yếu 0.10 3 0.30 2 0.20
3. Tăng nguồn nhân lực hạn chế 0.20 4 0.80 1 0.20
Tổng 1.00
Tổng điểm hấp dẫn   5.80 4.30

Nhìn vào Tổng số điểm hấp dẫn trên QSPM, lựa chọn tốt nhất là mở rộng bằng cách sử dụng nhượng quyền kinh doanh.

Lợi ích của ma trận QSPM

Ma trận QSPM là kết quả được các nhà hoạch định thảo luận và trao đổi. Với tính hấp dẫn của các chiến lược khác nhau sẽ được xác định thông qua ma trận QSPM và dựa trên việc tận dụng hoặc cải thiện về những yếu tố thành công cơ bản của môi trường bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp.

Đồng thời QSPM được xây dựng nhằm mục đích cho phép các nhà quản trị chiến lược có thể so sánh và đưa ra các lựa chọn giữa những chiến lược khác nhau. Từ đó các nhà hoạch định chiến lược có thể đánh giá khách quan về danh mục các chiến lược và lựa chọn thông qua những phán đoán nhanh nhạy, sắc bén nhất.

QSPM được xem là một công cụ phân tích hữu ích nhằm giúp cho bạn có thể xác định được mức độ hấp dẫn tương đối của các chiến lược khác nhau.

Một quyết định phù hợp nhất sẽ được đưa ra dựa vào đánh giá các mối quan hệ quan trọng có ảnh hưởng tới quyết định thông qua ma trận QSPM. Ma trận QSPM được ứng dụng tương đối rộng đối với cả doanh nghiệp mang quy mô nhỏ và những doanh nghiệp mang quy mô lớn.

Kết luận

Hy vọng với những thông tin trên đây về Ma trận QSPM là gì và tiến trình để phát triển ma trận QSPM. Nếu các bạn có bất cứ thắc mắc nào hãy comment bên dưới ngay nhé!

Tintucthitruong.net – Chắc hẳn rằng các bạn đã từng nghe đến một thuật ngữ đó là lạm phát nhiều lần ở trên các phương tiện truyền thông. Thế nhưng các bạn vẫn chưa biết được những tác động của lạm phát đối với thị trường như thế nào?

Vì thế, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu ngay sau đây về vấn đề này nhé!

Tác động của lạm phát đối với thị trường

Tác động tiêu cực

Tác động của lạm phát đối với thị trường

Tham khảo thêm: Lạm phát là gì? Nguyên nhân của sự lạm phát

a/ Lãi suất

Khi lạm phát tăng cao, muốn lãi suất thực ổn định thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng tỷ lệ lạm phát. Việc tăng lãi suất danh nghĩa dẫn đến hậu quả nền kinh tế suy thoái và thất ngiệp.

b/ Thu nhập thực tế và phân phối thu nhập bình đẳng

Giữa thu nhập thực tế và thu nhập danh nghĩa của người lao động có quan hệ với nhau qua tỷ lệ lạm phát. Lạm phát tăng nhưng thu nhập danh nghĩa không đổi khiến thu nhập thực tế bị giảm xuống. Lạm phát không chỉ giảm giá trị thật của những tài sản không có lãi mà còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi do chính sách nhà nước tính lãi theo cơ sở thu nhập danh nghĩa. Hậu quả là suy thoái kinh tế, thất nghiệp gia tăng, đời sống người lao động khó khăn và mất niềm tin vào chính phủ.

c/ Nợ quốc gia

Lạm phát cao giúp chính phủ nhận được khoản lợi từ thuế đánh vào thu nhập của người dân. Tuy nhiên, khoản nợ nước ngoài trở nên trầm trọng hơn do tỷ giá đồng tiền trong nước trở nên mất giá so với đồng tiền nước ngoài tính trên các khoản nợ.

Tác động tích cực

Khi tốc độ lạm phát từ 2 – 5% ở các nước phát triển và dưới 10% đối với các nước đang phát triển là một tín hiệu tốt mang lại các nguồn lợi sau đây:

– Kích thích tiêu dùng, vay nơ, đầu tư giảm bớt thất nghiệp trong xã hội

– Chính phủ có nhiều lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư vào các lĩnh vực kém ưu tiên bằng việc mở rộng tín dụng, phân phối lại thu nhập và các nguồn lực trong xã hội.

Một số cách kiểm soát lạm phát hiệu quả

Lạm phát ở mức độ vừa phải thì rất tốt, thế nhưng nếu như tỷ lệ lạm phát tăng cao thì sẽ là tình trạng đáng báo động của các quốc gia. Do đó mỗi quốc gia cần phải có biện pháp để kiểm soát lạm phát lên quá cao. Vậy có những cách nào để kiểm soát lạm phát?

Một số cách kiểm soát lạm phát hiệu quả

Giảm lượng tiền lưu thông

  • Để giảm lượng tiền lưu thông trong xã hội thì đầu tiên Nhà nước nên ngừng phát hành tiền.
  • Để giảm lượng cung tiền thì cần phải tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở các Ngân hàng.
  • Tăng lãi suất tiền gửi và lãi suất tái chiết khấu: Việc tăng lãi suất tiền gửi sẽ giúp cho người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn, còn tăng lãi suất chiết khấu thì hạn chế được việc ngân hàng thương mại mang giấy tờ có giá đến ngân hàng nhà nước để thực hiện chiết khấu.
  • Ngân hàng thương mại mua ngoại tệ, vàng và chứng từ có giá của ngân hàng trung ương.
  • Cắt giảm đầu tư công và giảm chi tiêu thường xuyên để giảm ngân sách.
  • Tăng thuế tiêu dùng để giảm bớt nhu cầu mua hàng.

Sản xuất hàng hóa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng

  • Khuyến khích tự do mậu dịch
  • Nhập khẩu hàng hóa
  • Giảm thuế

Sử dụng chính sách tiền tệ

Sử dụng các công cụ của hoạt động ngoại hối và tín dụng để giúp ổn định tiền tệ. Từ đó giúp cho nền kinh tế được ổn định và thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển. Ngân hàng trung ương chống lạm phát bằng cách tăng lãi suất cho vay cao và tốc độ cung tiền chậm.

Sử dụng chính sách tài khóa

Đây là chính sách của Chính phủ tác động đến hệ thống thuế khóa và chi tiêu để nhằm tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả và tạo việc làm cho lao động. Với chính sách này Chính phủ thường áp dụng các cách như:

  • Giảm chi tiêu và đầu tư công, hoãn những khoản không cần thiết.
  • Cân đối lại ngân sách nhà nước.
  • Tăng thuế tiêu dùng.
  • Giảm sức ép lên giá của hàng hóa.

Một số biện pháp khác

  • Nhận viện trợ từ các quốc gia khác.
  • Ổn định tỷ giá hối đoái.
  • Cải cách trong chính sách thu nhập.

Có hay không đồng tiền giảm lạm phát?

Có hay không đồng tiền giảm lạm phát?

Khi mà hầu hết các quốc gia đều tìm cách để đồng tiền của quốc gia không bị lạm phát. Nhưng có một đồng tiền được cho rằng là đồng tiền giảm lạm phát.

Đó chính là đồng tiền ảo Bitcoin!

Điều này cũng dễ hiểu bởi vì nó có các tính chất của nó như:

  • Nguồn cung cố định
  • Cơ chế giảm nguồn cung

Chính sự đặt biệt này làm cho nó trở thành đồng tiền đầu tiên giảm lạm phát.

Kết luận

Trên đây là những thông tin về những tác động của lạm phát đối với thị trường tài chính hiện nay. Chúc các bạn sẽ giao dịch thành công!

Tintucthitruong.net – Hiện nay, một trong những vấn đề lớn nhất mà nền kinh tế đang phải đối mặt đó chính là lạm phát. Tuy nhiên, lạm phát thường sẽ không chỉ đơn thuần là một khái niệm vĩ mô mà còn trực tiếp tác động đến từng cá nhân và cũng là thành viên trong xã hội.

Vậy Lạm phát là gì? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu ngay nhé!

Lạm phát là gì?

Lạm phát là hiện tượng giá cả hàng hóa tăng lên so với một mốc thời gian cố định trong quá khứ khiến mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền . Thời gian thường được đo trong ngắn hạn, phần lớn so với một năm trước. So với các nền kinh tế khác, lạm phát là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác.

Lạm phát là gì?

Tham khảo thêm: Chứng khoán phái sinh là gì?

Lạm phát được đo bằng cách theo dõi sự thay đổi giá cả của một lượng lớn hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế, thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức nhà nước, các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh. Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để thống nhất một mức giá trung bình. Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại so với thời điểm gốc.

Ví dụ về lạm phát: Trước đây giá thịt lợn trung bình chỉ khoảng 50.000VNĐ/kg nhưng giờ đây giá thịt lợn đã tăng lên 100.000VNĐ/kg, như vậy là lạm phát tăng lên 50% so với trước.

Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát được hiểu là sự giảm giá trị đồng tiền của quốc gia này so với đồng loại của quốc gia khác.

Đây là một hiện tượng kinh tế tự nhiên xảy ra ở tất cả nền kinh tế dùng tiền mặt để làm trung gian thanh toán. Đơn vị tính của là phần trăm (%). Hiện nay, lạm phát có 3 mức độ gồm:

  • Tự nhiên: 0 – dưới 10%
  • Phi mã: 10% đến dưới 1000%
  • Siêu lạm phát: trên 1000%

Trên thực tế, các quốc gia chỉ kỳ vọng chỉ xảy ra khoảng 5% trở xuống là con số lý tưởng.

Phân loại lạm phát

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế tất yếu và buộc phải có của nền kinh tế. Dựa theo mức độ lạm phát thì lạm phát được phân ra làm 3 loại:

Lạm phát vừa phải

Tỷ lệ lạm phát vừa phải trong khoảng từ dưới 10%/năm. Với tỷ lệ lạm phát này thì nền kinh tế xã hội vẫn hoạt động bình thường, đời sống nhân dân ổn định và ít rủi ro.

Lạm phát phi mã

Tỷ lệ lạm phát phi mã nằm trong khoảng từ 10% – dưới 1000%/năm. Tỷ lệ lạm phát này đã làm cho giá cả thị trường tăng nhanh và gây ra biến động kinh tế lớn. Khi đó người dân sẽ có xu hướng là tích trữ vàng bạc, hàng hoá, bất động sản, đồng thời hạn chế cho vay tiền với lãi suất bình thường.

Siêu lạm phát

Tỷ lệ siêu lạm phát vượt mức trên 1000%/năm. Tỷ lệ lạm phát này tăng nhanh và để lại hậu quả vô cùng lớn, vượt xa lạm phát phi mã. Khi xảy ra siêu lạm phát thì nền kinh tế của quốc gia sẽ rất khó để phục hồi trở lại như ban đầu. Tuy nhiên loại lạm phát này rất hiếm khi xảy ra.

Nguyên nhân của sự lạm phát

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát, trong đó “ lạm phát do cầu kéo” và “ lạm phát do chi phí đẩy” là 2 nguyên nhân chính.

Nguyên nhân của sự lạm phát

  • Lạm phát do cầu kéo: Khi nhu cầu của thị trường về mặt hàng tăng lên kéo theo sự tăng lên về giá cả và các loại hàng hóa khác hầu hết trên thị trường sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát do cầu kéo.
  • Lạm phát do chi phí đẩy: Chi phí đẩy của doanh nghiệp bao gồm chi phí đầu vào như nguyên liệu, máy móc, tiền lương, bảo hiểm,..v..v. Khi giá cả một vài yếu tố sản xuất tăng lên kéo theo sự tăng lên về giá cả của sản phẩm nhằm đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp.
  • Lạm phát do cầu thay đổi: Khi lượng cầu giảm với mặt hàng này nhưng lại tăng vơi mặt hàng khác. Trong trường hợp thị trường có nhà cung cấp độc quyền và cố định về giá, mặt hàng có lượng cầu giảm không giảm giá, còn mặt hàng tăng cầu tăng giá khiến mức giá chung tăng lên.
  • Lạm phát do xuất khẩu: Khi xuất khẩu tăng, dẫn đến tổng cầu cao hơn tổng cung, khi đó sản phẩm thu gom cho xuất khẩu khiến hàng cung cho thị trường trong nước giảm, khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu trong nước. Mất cân bằng cung cầu dễ hình thành lạm phát.
  • Lạm phát do nhập khẩu: Ngược lại với lạm phát do xuất khẩu, tổng cầu trong nước thấp hơn tổng cung gây mất cân bằng cung cầu.
  • Lạm phát tiền tệ:  Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, ví dụ như ngân hàng mua ngoại tệ để giữ đồng tiền trong nước không mất giá so với ngoại tệ hoặc ngân hàng trung ương mua công trái yêu cầu nhà nước.

Lạm phát được đo lường bằng cách nào?

Lạm phát được đo lường bằng cách dựa trên sự biến động giá cả của lượng lớn hàng hóa và dịch vụ ở trong một nền kinh tế. Số liệu này dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, các tạp chí kinh doanh, các liên đoàn lao động …

Giá cả của hàng hóa và dịch vụ sẽ được tổ hợp lại và đưa ra một chỉ số giá cả trung bình. Tỷ lệ lạm phát chính là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này.

Không có một phép đo chính xác nào cho tỷ lệ lạm phát bởi nó còn phụ thuộc vào tỷ trọng của mỗi hàng hóa trong chỉ số và phạm vi khu vực kinh tế thực hiện đo lạm phạm.

Hiện nay chỉ số để đo tỷ lệ lạm phát là CPI – chỉ số giá tiêu dùng để đo giá cả của lượng lớn một số loại hàng hóa và dịch vụ như: lương thực, thực phẩm,  dịch vụ y tế… được mua bởi những người tiêu dùng thông thường.

Công thức:

Tỷ lệ lạm phát = (Giá trị chỉ số CPI cuối cùng / Giá trị CPI ban đầu) * 100

Kết luận

Trên đây là những thông tin về việc lạm phát là gì trên thị trường tài chính hiện nay. Chúc các bạn sẽ thành công nhé!

Tin tức thị trườngTài khoản đối ứng thường sẽ được hiểu như là những khoản phát sinh giữa bên nợ và bên có. Đối ứng tài khoản là 1 phương pháp nhằm để kiểm tra được những thông tin, quá trình luân chuyển của hầu hết các đối tượng kế toán theo những mối quan hệ đang được phản ứng trong từng nghiệp vụ kế toán.

Vậy có các quan hệ đối ứng như thế nào? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu ngay sau đây nhé!

Các quan hệ đối ứng khác nhau của tài khoản kế toán

Trong lĩnh vực kế toán, tài khoản kế toán sẽ có những quan hệ đối ứng khác nhau, bao gồm: Quan hệ đối ứng tài khoản cơ bản và quan hệ đối ứng kế toán trung gian, cụ thể:

Các quan hệ đối ứng khác nhau của tài khoản kế toán

Tham khảo thêm: Tài khoản đối ứng (Contra Account) là gì?

Quan hệ đối ứng tài khoản cơ bản

Đầu tiên là quan hệ đối ứng với các tài khoản cơ bản. Với các quan hệ tài khoản đối ứng cơ bản sẽ bao gồm 4 dạng đối ứng như sau:

  • Tài sản tăng – giảm: Đây là mối quan hệ xảy ra khi một tài sản tằng và tài sản tương ứng giảm giá trị. Dạng nghiệp vụ đối ứng này chỉ xảy ra khi có những ảnh hưởng trong nội bộ của tài sản. Tuy nhiên quan hệ này sẽ chỉ thay đổi khi kết cấu tài sản không bị thay đổi.
  • Nguồn vốn tăng – nguồn vốn giảm: Mối quan hệ này xảy ra khi một nguồn vốn tăng và nguồn vốn tương ứng giảm. Các nghiệp vụ kế toán lúc này sẽ làm thay đổi kết cầu của nguồn vốn chứ không làm thay đổi tổng số vốn.
  • Tài sản tăng – nguồn vốn tăng: mối quan hệ này làm tăng trưởng quy mô nguồn vốn, tài sản lên một lượng nhất định. Tuy nhiên, sự cân bằng giữa nguồn vốn và tài sản thường sẽ không bị ảnh hưởng quá nhiều.
  • Tài sản giảm – nguồn vốn giảm: mối quan hệ này sẽ làm giảm tăng trưởng nguồn vốn. Trong đó, các tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp sẽ giảm cùng nhau. Nhưng tổng số tài sản của doanh nghiệp vẫn ở mức cân bằng.

Quan hệ đối ứng kế toán trung gian

Với tài khoản đối ứng trong kế toán, bên cạnh các quan hệ cơ bản, vẫn còn đó các quan hệ đối ứng trung gian. Trong đó có thể kể tới như:

  • Giảm tài sản, phát sinh chi phí.
  • Tăng tài sản, phát sinh thu nhập.
  • Giảm vốn, phát sinh thu nhập.
  • Tăng vốn, phát sinh chi phí.

Đây là một số mối quan hệ đối ứng tài khoản trung gian cơ bản mà các kế toán viên cần nắm được. Tuy nhiên, nó chủ yếu chỉ liên quan tới các đối tượng tài sản, vốn, doanh thu, chi phí bỏ ra của doanh nghiệp.

Cách thức thể hiện quan hệ đối ứng trong sổ kép

Một khi bộ phận kế toán đã xác định được một nghiệp vụ bất kỳ nằm trong các mối quan hệ đối ứng nào thì sẽ phải ghi chép các hoạt động nghiệp vụ đó vào sổ sách kế toán để có thể phản ánh nghiệp vụ kế toán phát sinh với tối thiểu 2 tài khoản nhất định theo cùng quan hệ đối ứng. Cách thức thể hiện quan hệ đối ứng trong sổ kép căn cứ dựa trên nguyên tắc ghi sổ kép và trùng từ ghi sổ kép.

Cách thức thể hiện quan hệ đối ứng trong sổ kép

Cụ thể:

Nguyên tắc ghi sổ kép

Để có thể cập nhật rõ ràng các nghiệp vụ quan hệ đối ứng khác nhau. Bộ phận kế toán cần phải tuân thủ các nguyên tắc cập nhập sổ kép như sau:

  • Cần phải cập nhật đồng thời 2 dạng tài khoản kế toán trở lên trong nghiệp vụ phát sinh.
  • Phải ghi đúng mối quan hệ đối ứng của nghiệp vụ kế toán.
  • Các tổng số tiền phát sinh của bên nợ luôn bằng tổng số tiền phát sinh của bên có đối với các tài khoản có phát sinh quan hệ đối ứng tài khoản.

Trùng từ ghi sổ kép

Để cập nhật quan hệ đối ứng tài khoản, các kế toán viên cần phải tuân theo đúng trình tự như sau:

  • Đầu tiên, bộ phận kế toán cần xác định đúng thời điểm ghi sổ kép, giá trị ghi sổ. Tùy thuộc vào các thỏa thuận mua bán mà những nghiệp vụ kế toán này được ghi sổ cho đến khi khách nhận được hàng.
  • Tiếp theo, các kế toán viên cần xác định rõ những nghiệp vụ phát sinh nào được ghi vào mục nợ, những nghiệp vụ nào được ghi vào mục có với số tiền tương ứng trong mỗi tài khoản.
  • Cuối cùng, kế toán viên cần mở đủ tài khoản để có thể ghi rõ các định khoản nhất định.

Kết luận

Hy vọng với những thông tin mà chúng tôi chia sẻ trên đây về những mối quan hệ đối ứng trong tài khoản kế toán đã giúp các bạn hiểu rõ hơn về loại tài khoản này nhé! Chúc các bạn ngày mới thành công!