Author

admin

Browsing

Tỷ giá euro trong nước

Tỷ giá euro trong sáng ngày hôm nay (20/5) được điều chỉnh giảm đồng loạt tại các ngân hàng so với phiên đóng cửa cuối ngày hôm qua. Khảo sát lúc 10h00, Vietcombank cùng giảm giá mua 117 đồng và giá bán xuống 123 đồng. Tương tự tại Vietinbank, giá euro đồng loạt giảm 91 đồng cho cả hai chiều xuống mua – bán với giá là 27.511 – 28.876 VND/EUR.

Trong khi đó tại BIDV, mức giảm dành cho chiều mua là 113 đồng và chiều bán là 118 đồng so với mức ghi nhận cuối ngày hôm qua.

  • Tỷ giá euro hôm nay 21/5: Quay đầu tăng đồng loạt tại các ngân hàng và thị trường chợ đen

Bên khối ngân hàng tư nhân, Techcombank cũng cùng lúc điều chỉnh giảm 108 đồng cho chiều mua và 107 đồng cho chiều bán xuống giao dịch ở mức là 27.538 – 28.759 VND/EUR. Eximbank hiện mua – bán euro với giá là 27.750 – 28.306 VND/EUR, tương ứng là giảm 102 đồng cho chiều mua và 104 đồng cho chiều bán.

Tại Sacombank, tỷ giá euro cũng đồng loạt điều chỉnh giảm 110 đồng tại cả chiều mua và chiều bán xuống giao dịch với giá là 27.857 – 28.412 VND/EUR.

Cùng với xu hướng giảm của các ngân hàng trong nước, HSBC hiện cũng giảm 109 đồng ở chiều mua và 113 đồng tại chiều bán. Sau điều chỉnh, đồng euro giao dịch ở mức là 27.516 – 28.510 VND/EUR.

Hiện nay, tỷ giá mua euro tại các ngân hàng được khảo sát dao động trong khoảng từ 27.208 – 27.857 VND/EUR còn tỷ giá bán trong phạm vi từ 28.306 – 28.876 VND/EUR.

Trong đó, Sacombank có giá mua euro cao nhất và tại Eximbank có giá bán thấp nhất trong các ngân hàng được khảo sát.

Trên thị trường chợ đen, khảo sát lúc 10h00, đồng euro cũng đồng loạt giảm 50 đồng cả hai chiều mua – bán xuống giao dịch ở mức là 28.050 – 28.150 VND/EUR.

 

*Ghi chú: Tỷ giá mua – bán tiền mặt

Ngày

Ngày 20/5/2021

Thay đổi so với phiên hôm trước

Ngân hàng

Mua

Bán

Mua

Bán

Vietcombank

27.208

28.629

-117

-123

Vietinbank

27.511

28.876

-91

-91

BIDV

27.595

28.722

-113

-118

Techcombank

27.538

28.759

-108

-107

Eximbank

27.750

28.306

-102

-104

Sacombank

27.857

28.412

-110

-110

HSBC

27.516

28.510

-109

-113

Tỷ giá chợ đen (VND/EUR)

28.050

28.150

-50

-50

Cập nhật tỷ giá ngoại tệ hôm nay:

Giá yen Nhật (JPY) mua cao nhất là 208,73 VND/JPY tại Ngân hàng Quốc Dân. Bán yen Nhật (JPY) giá thấp nhất là Ngân hàng Eximbank ở mức 212,91 VND/JPY.

Tỷ giá USD giao dịch mua vào và bán ra: 22.910 – 23.140 VND/USD.

Tỷ giá đô la Singapore (SGD) giao dịch mua vào và bán ra: 16.843,70 – 17.547,25 VND/SGD.

Tỷ giá đô la Canada (CAD) giao dịch mua vào và bán ra: 18.538,22 – 19.312,55 VND/CAD.

Tỷ giá baht Thái Lan (THB) giao dịch mua vào và bán ra: 647,80 – 746,82 VND/THB.

Tỷ giá euro quốc tế

Trên thị trường quốc tế, đồng euro ghi nhận lúc 10h00 giao dịch ở mức 1,2178 USD/EUR, tăng 0,02% với giá đóng cửa ngày hôm qua (19/5).

Tỷ giá euro hôm nay 20/5: Bất ngờ quay đầu giảm đồng loạt tại các ngân hàng và thị trường chợ đen - Ảnh 2.

Diễn biến tỷ giá EUR/USD trong ngày hôm nay (Nguồn: Bloomberg).

 

Trong tháng 5, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương (Saigonbank) vẫn tiếp tục triển khai biểu lãi suất tiền gửi đã áp dụng từ tháng trước. Khách hàng cá nhân gửi tiết kiệm nhận lãi cuối kỳ trong thời gian 1 – 36 tháng được hưởng lãi suất từ 3,1%/năm đến 6,5%/năm)

Trong đó, lãi suất ngân hàng áp dụng tại kỳ hạn 1 tháng và 2 tháng lần lượt là 3,1%/năm và 3,2%/năm. Tiền gửi tại kỳ hạn 3 – 5 tháng có cùng lãi suất là 3,4%/năm.

Khách hàng gửi tiết kiệm tại các kỳ hạn từ 6 tháng đến 11 tháng đang được Saigonbank áp dụng cùng mức lãi suất là 5,1%/năm. Tiếp đó lãi suất tiết kiệm tại kỳ hạn 12 tháng được duy trì ở mức 5,6%/năm, không đổi so với tháng trước.

Tại kỳ hạn 13 tháng, Saigonbank đang huy động tiền gửi với lãi suất 6,5%/năm. Đây cũng đang là mức lãi suất cao nhất mà khách hàng cá nhân được hưởng ở thời điểm hiện tại.

Với ba kỳ hạn dài nhất là 18 tháng, 24 tháng và 36 tháng, lãi suất ngân hàng Saigonbank được ấn định cùng mức 6%/năm.

Khách hàng có nhu cầu gửi tiền ngân hàng trong thời gian ngắn 1 – 3 tuần chỉ được áp dụng lãi suất ở mức thấp 0,2%/năm.

Ngoài hình thức tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ, Saigonbank cũng triển khai đa dạng các kỳ lĩnh lãi khác như: lĩnh lãi hàng tháng (3,1%/năm – 6,3%/năm), lĩnh lãi hàng quý (3,4%/năm – 5,79%/năm) và lĩnh lãi trước (3,09%/năm – 6,08%/năm).

Biểu lãi suất ngân hàng Saigonbank áp dụng với khách hàng cá nhân

Kỳ hạn

Trả lãi cuối kỳ (%/năm)

Trả lãi hàng quý (%/năm)

Trả lãi hàng tháng (%/năm)

Trả lãi trước (%/năm)

Tiết kiệm không kỳ hạn

 

 

0,20%

 

Tiết kiệm có kỳ hạn

 

 

 

 

01 tuần

0,20%

 

 

 

02 tuần

0,20%

 

 

 

01 tháng

3,10%

 

3,10%

3,09%

02 tháng

3,20%

 

3,20%

3,19%

03 tháng

3,40%

3,40%

3,39%

3,37%

04 tháng

3,40%

 

3,38%

3,36%

05 tháng

3,40%

 

3,38%

3,35%

06 tháng

5,10%

5,07%

5,05%

4,97%

07 tháng

5,10%

 

5,04%

4,95%

08 tháng

5,10%

 

5,03%

4,93%

09 tháng

5,10%

5,04%

5,02%

4,91%

10 tháng

5,10%

 

5,01%

4,89%

11 tháng

5,10%

 

4,99%

4,87%

12 tháng

5,60%

5,49%

5,47%

5,31%

13 tháng

6,50%

 

6,30%

6,08%

18 tháng

6,00%

5,79%

5,76%

5,50%

24 tháng

6,00%

5,71%

5,68%

5,36%

36 tháng

6,00%

5,56%

5,53%

5,08%

Nguồn: Saigonbank

Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp cũng được giữ nguyên biểu lãi suất huy động trong tháng này. Lãi suất tiền gửi thanh toán bằng VND của khách hàng tổ chức giao động trong khoảng từ 2,8%/năm đến 5%/năm, áp dụng cho loại kỳ hạn từ 1 tháng đến 36 tháng.

Lãi suất tiền gửi thanh toán bằng VND của khách hàng tổ chức

Kỳ hạn

Lãi suất (% năm)

1. Loại không kỳ hạn

0,20%

2. Loại 01 tuần

0,20%

3. Loại 02 tuần

0,20%

4. Loại kỳ hạn 01 tháng

2,80%

5. Loại kỳ hạn 02 tháng

3,00%

6. Loại kỳ hạn 03 tháng

3,20%

7. Loại kỳ hạn 04 tháng

3,20%

8. Loại kỳ hạn 05 tháng

3,20%

9. Loại kỳ hạn 06 tháng

4,90%

10. Loại kỳ hạn 07 tháng

4,90%

11. Loại kỳ hạn 08 tháng

4,90%

12. Loại kỳ hạn 09 tháng

4,90%

13. Loại kỳ hạn 10 tháng

4,90%

14. Loại kỳ hạn 11 tháng

4,90%

15. Loại kỳ hạn 12 tháng

5,00%

16. Loại kỳ hạn 13 tháng

5,00%

17. Loại kỳ hạn 18 tháng

5,00%

18. Loại kỳ hạn 24 tháng

5,00%

19. Loại kỳ hạn 36 tháng

5,00%

Nguồn: Saigonbank

Theo biên bản cuộc họp tháng 4 của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed), một số quan chức của cơ quan này cho rằng nếu nền kinh tế Mỹ tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng thì có thể sẽ là thời điểm để Fed có thể thảo luận về kế hoạch điều chỉnh giảm tốc độ mua tài sản.

CNBC cho biết các thị trường cũng đang theo dõi sát sao về thời điểm ngân hàng trung ương bắt đầu giảm bớt việc mua trái phiếu, mức mua vào hiện tại là ít nhất 120 tỷ USD mỗi tháng. Bảng cân đối kế toán của Fed đang ở mức 7.900 tỷ USD, gần gấp đôi mức trước đại dịch COVID-19.

Fed tiếp tục khẳng định rằng sẽ không thay đổi chính sách tiền tệ nới lỏng cho đến khi kinh tế Mỹ hồi phục hoàn toàn, đặc biệt là phải đạt mục tiêu việc làm và lạm phát. Tuy nhiên, thông tin tiết lộ từ cuộc họp cho hay các quan chức đã bàn luận tới việc sẽ giảm quá trình mua vào tài sản trong thời gian tới, mặc dù chưa có thời gian cụ thể.

Chủ tịch Jerome Powell cho biết sau cuộc họp rằng “sự phục hồi vẫn không đồng đều và vẫn còn xa thời điểm để thay đổi chính sách” và nền kinh tế vẫn chưa đủ  tiêu chuẩn về “tiến bộ đáng kể” mà ủy ban đã đặt ra.

Fed cân nhắc thắt chặt các chính sách nếu nền kinh tế có tín hiệu phục hồi nhanh chóng - Ảnh 1.

Chủ tịch Jerome Powell. (Ảnh: CNBC).

Tuy nhiên trên thực tế những chỉ số vĩ mô đã có nhiều thay đổi rõ nét trong thời gian qua. Lạm phát tăng với tốc độ 4,2% so với cùng kỳ năm ngoái, GDP dự kiến sẽ tăng trưởng gần 10% trong quý II, các chỉ số trong lĩnh vực sản xuất và chi tiêu đang trên đà tăng mạnh.

Và ngoại lệ duy nhất là tốc độ tuyển dụng chậm kinh ngạc vào tháng 4 với số lượng việc làm phi nông nghiệp chỉ tăng 266.000, cách xa so với kỳ vọng đạt 1 triệu việc làm.

Tại cuộc họp, mặc dù quyết định tiếp tục giữ nguyên lãi suất vay ngắn hạn gần bằng 0 và mức mua vào trái phiếu nhưng Fed nâng cấp quan điểm của mình về nền kinh tế cho rằng tăng trưởng đã “mạnh lên” và lạm phát đang tăng lên.

Những người tham gia cuộc họp của Fed kỳ vọng nhu cầu tăng cao cùng với việc nền kinh tế mở cửa trở lại kết hợp với các vấn đề chuỗi cung ứng sẽ đẩy mặt bằng giá lên trên mục tiêu lạm phát 2% của Fed. Tuy nhiên, họ cho rằng sau khi các tác động nhất thời của những yếu tố này biến mất, lạm phát sẽ giảm bớt.

HDBank muốn phát hành 11.500 tỷ đồng trái phiếu trong năm 2021 - Ảnh 1.

Ngân hàng TMCP Phát triển TP HCM. (Ảnh minh họa: HDBank).

Mới đây, Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP Phát triển TP HCM (HDBank – Mã: HDB) vừa thông qua chủ trương phát hành trái phiếu để huy động vốn trong năm 2021.

Cụ thể, HDBank muốn huy động tối đa 11.500 tỷ đồng trái phiếu thông qua hai đợt; trong đó, đợt thứ nhất phát hành tối đa 1.500 tỷ đồng và đợt thứ hai là 10.000 tỷ đồng.

Đây sẽ là hai đợt phát hành đầu tiên của HDBank trong năm nay.

Trong năm 2020, HDBank là ngân hàng phát hành trái phiếu cao thứ hai toàn ngành, xếp sau BIDV, với gần 17.600 tỷ đồng, theo IB VietinBank.

HDBank muốn phát hành 11.500 tỷ đồng trái phiếu trong năm 2021 - Ảnh 2.

(Nguồn: Lê Huy tổng hợp từ IB VietinBank).

Năm 2020, HDBank cũng là ngân hàng trong nước duy nhất phát hành thành công 160 triệu USD (tương đương 3.680 tỷ đồng) trái phiếu chuyển đổi ra thị trường quốc tế để bổ sung vốn cấp 2 theo hình thức chào bán riêng lẻ, với kỳ hạn là 5 năm 1 ngày, lãi suất cố định là 4,5%/năm.

Về kết quả kinh doanh, trong quý I/2021, lợi nhuận trước thuế hợp nhất của HDBank đạt trên 2.100 tỷ đồng, tăng 68% so với cùng kỳ năm trước.

Các chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên tài sản (ROA) đạt lần lượt 26,3% và 2,1%. Chất lượng tài sản, các chỉ tiêu an toàn vốn, thanh khoản duy trì ở mức cao. Hệ số an toàn vốn (CAR – Basel II) trên 12%.

Tại 31/3/2021, tổng tài sản của ngân hàng đạt 325.821 tỷ đồng, tăng 2,1% so với cuối năm ngoái. Dư nợ tín dụng đạt 197.970 tỷ đồng, tăng 5,2%. Quy mô huy động vốn và phát hành giấy tờ có giá đạt 219.266 tỷ đồng, tăng 4,9%. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 1,51%.

'Lãi suất liên ngân hàng sẽ hạ nhiệt vào cuối quý II' - Ảnh 1.

(Ảnh minh họa: Tạp chí Tài chính).

Trong báo cáo phân tích mới đây, Chứng khoán KB (KBSV) nhận định thanh khoản tiền  chịu áp lực hơn so với trước do tín dụng tăng mạnh và hoạt động mua ngoại tệ giao ngay bị hạn chế.

Cụ thể, tín dụng trong 4 tháng đầu năm tăng mạnh hơn nhiều so với huy động vốn, đặc biệt là trong tháng 4 tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống. Tính tới ngày 16/4, dư nợ tín dụng đã đạt mức tăng 3,34% so với đầu năm, cao hơn rất nhiều so với mức tăng 1,41% cùng kỳ năm ngoái và mức 1,47% vào trung tuần tháng 3. 

Mặt khác, huy động vốn lại đang có dấu hiệu tăng trưởng chậm hơn tín dụng, khi tính tới ngày 19/3, tăng trưởng huy động vốn mới chỉ đạt 0,54% trong khi tăng trưởng tín dụng đã đạt 1,47%. 

Ngoài ra, nghiệp vụ bơm tiền đồng thông qua hoạt động mua ngoại tệ giao ngay của Ngân hàng Nhà nước bị hạn chế phần nào khiến thanh khoản bớt dồi dào hơn so với cuối năm 2020.

“Dấu hiệu thanh khoản chịu áp lực đã khiến diễn biến lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn tăng tương đối mạnh trong tháng 4”, KBSV đánh giá.

Cụ thể, lãi suất kỳ hạn qua đêm tăng mạnh từ khoảng 0,15% trong 3 tháng đầu năm lên 0,5%/năm vào cuối tháng 4. 

'Lãi suất liên ngân hàng sẽ hạ nhiệt vào cuối quý II' - Ảnh 2.

Diễn biến tương tự cũng được quan sát thấy ở các kỳ hạn còn lại. Khối lượng giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tập trung ở kỳ hạn qua đêm với tổng giá trị giao dịch tăng gấp 2 so với cùng kỳ.

Dự báo trong tháng 5, KBSV cho rằng diễn biến lãi suất liên ngân hàng sẽ duy trì ở mức cao, khoảng 0,5% -1% cho lãi suất qua đêm, do chênh lệch giữa tín dụng và huy động bị nới rộng trong 4 tháng đầu năm vẫn tạo áp lực ngắn hạn trong đầu tháng 5.

Tuy nhiên, nhóm phân tích cũng nhận định diễn biến phức tạp của dịch bệnh trong 2 tuần qua sẽ khiến cầu tín dụng bị ảnh hưởng.

“Ngoài ra, dòng tiền nội tệ thông qua kênh giao dịch mua ngoại tệ sẽ quay trở lại vào cuối tháng 6 và đầu tháng 7 sẽ cung cấp một lượng thanh khoản tiền đồng cho hệ thống ngân hàng. Điều này sẽ khiển mặt bằng lãi suất ngân hàng hạ nhiệt trở lại trong giai đoạn cuối quý II”, theo KBSV.

Số hoá quy trình đăng ký trở thành đơn vị chấp nhận thẻ Sacombank - Ảnh 1.

Nguồn: Sacombank.

Yêu cầu sẽ được xử lý thông qua các giải pháp số hoàn toàn tự động và hoàn tất chỉ trong 5 phút thay vì khách hàng phải đến ngân hàng đăng ký trực tiếp và mất ít nhất 2 ngày xử lý. 

Sau khi đăng ký thành công, khách hàng có thể tải ứng dụng mMerchant của Sacombank trên Apple Store/Google Play để sử dụng điện thoại di động như một máy POS chấp nhận thanh toán thẻ không tiếp xúc (Tap To Phone).

Giải pháp này giúp người sử dụng dễ dàng di chuyển, rút ngắn thời gian thao tác nhưng vẫn đảm bảo tính an toàn bảo mật, đồng thời, giảm thiểu chi phí cũng như thời gian lắp đặt máy chấp nhận thanh toán.

Sacombank là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hợp tác với Công ty công nghệ thanh toán điện tử Visa và Mastercard trong việc triển khai công nghệ chấp nhận thanh toán không tiếp xúc bằng điện thoại di động (Tap To Phone). 

Hiện Tap To Phone đã được áp dụng đối với các thiết bị di động hệ điều hành Android 8 trở lên có hỗ trợ công nghệ kết nối không dây tầm ngắn NFC và trong tương lai sẽ được mở rộng thêm đối với hệ điều hành IOS.

Để biết thêm thông tin chi tiết, khách hàng vui lòng liên hệ Hotline 1900 5555 88; truy cập website https://card.sacombank.com.vn.

TPBank thu về hơn 1.100 tỷ đồng từ bán cổ phiếu quỹ - Ảnh 1.

Hội sở TPBank trên đường Lý Thường Kiệt. (Ảnh: Lê Huy).

Mới đây, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank – Mã: TPB) đã thông báo bán hết hơn 40 triệu cổ phiếu (tương đương 3,73% vốn điều lệ) quỹ từ ngày 28/4 đến 18/5. 

Số cổ phiếu này được giao dịch theo phương thức thỏa thuận, giá bình quân 28.406 đồng/cp. Theo BCTC quý I/2021, số cổ phiếu quỹ được ghi nhận giá trị gần 909 tỷ đồng, tương ứng giá trị mỗi cổ phiếu quỹ khoảng 22.700 đồng.

Như vậy, việc bán cổ phiếu quỹ đã đem về cho TPBank xấp xỉ 1.136 tỷ đồng và thu lãi gần 227 tỷ đồng.

Trước đó, ngân hàng cho biết mục đích bán cổ phiếu quỹ nhằm tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành; đồng thời cơ cấu lại nguồn vốn, bổ sung vốn lưu động để đầu tư cho hoạt động kinh doanh.

Trên thị trường chứng khoán, kết phiên 20/5, giá cổ phiếu TPB đạt 33.000 đồng/cp, tăng hơn 23% kể từ cuối năm ngoái.

TPBank thu về hơn 1.100 tỷ đồng từ bán cổ phiếu quỹ - Ảnh 2.

Diễn biến giá cổ phiếu TPBank từ năm ngoái tới nay. (Ảnh: TradingView).

Về tình hình kinh doanh, trong quý I/2021, TPBank lãi trước thuế 1.422 tỷ đồng, tăng 40,9% so với cùng kỳ năm trước nhờ động lực từ hoạt động tín dụng và dịch vụ.

Tính tới 31/3/2021, tổng tài sản của ngân hàng đạt 216.153 tỷ đồng, tăng 4,8% so với cuối năm trước.

Trong đó, dư nợ cho vay khách hàng tăng 3,7% với 124.387 tỷ đồng, song số dự nợ xấu tăng 4,4% lên 1.483 tỷ đồng, khiến tỷ lệ nợ xấu nhích nhẹ từ mức 1,18% lên 1,19%.

Quy mô tiền gửi khách hàng đạt 120.037 tỷ đồng, tăng 3,6%.

Lãi suất ngân hàng Nam A Bank cập nhật tháng 5/2021 - Ảnh 1.

Nguồn: Nam A Bank

Khảo sát ngày 29/5, lãi suất tiền gửi VND tại Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank) có một số điều chỉnh nhỏ tại một vài kỳ hạn gửi. Khung lãi suất tiết kiệm trả lãi cuối kỳ dành cho khách hàng cá nhân vẫn tiếp tục duy trì trong khoảng từ 3,95%/năm đến 6,7%/năm. Các kỳ hạn áp dụng từ 1 tháng đến 36 tháng.

Trong đó, lãi suất ngân hàng tại kỳ hạn từ 1 tháng đến 7 tháng được giữ nguyên như ghi nhận vào tháng trước. Tiền gửi tiết kiệm tại kỳ hạn từ 1 tháng đến 5 tháng có cùng lãi suất là 3,95%/năm. Hai kỳ hạn gửi 6 tháng và 7 tháng được duy trì lãi suất 6%/năm.

Đối với tiền gửi tại các kỳ hạn từ 8 tháng đến 11 tháng, Nam A Bank giảm đồng loạt 0,1 điểm % tại mỗi kỳ hạn. Lãi suất tiết kiệm ghi nhận được sau khi điều chỉnh là 6%/năm.

Từ kỳ hạn 12 tháng trở đi, ngân hàng giữ nguyên lãi suất đã triển khai trước đó. Các khoản tiết kiệm tại kỳ hạn 12 tháng được ấn định với lãi suất là 6,1%/năm. Lãi suất tiền gửi tại kỳ hạn 13 tháng với số tiền dưới 500 tỷ đồng không được niêm yết cụ thể mà được áp dụng lãi suất tại kỳ hạn 12 tháng.

Khách hàng gửi tiết kiệm tại kỳ hạn 14 – 17 tháng tiếp tục được hưởng lãi suất là 6,6%/năm. Tiếp đó tiền gửi tại kỳ hạn 18 – 29 tháng được niêm yết với cùng lãi suất 6,7%/năm. Trong đó khoản tiết kiệm dưới 500 tỷ đồng tại kỳ hạn 24 tháng được áp dụng lãi suất tại kỳ hạn 23 tháng.

Lãi suất ngân hàng Nam A Bank áp dụng tại các kỳ hạn từ 30 tháng đến 36 tháng duy trì ở mức 6,6%/năm.

Với thời gian gửi ngắn ngày 1 tuần, 2 tuần và 3 tuần, ngân hàng ấn định lãi suất ở mức 0,2%/năm. Khách hàng tất toán khoản tiết kiệm trước hạn được áp dụng lãi suất là 0,1%/năm.

Bên cạnh đó, Nam A Bank cũng triển khai các kỳ trả lãi linh hoạt khác như: trả lãi hàng tháng (3,92%/năm – 6,4%/năm), trả lãi trước (3,88%/năm – 6,12%/năm), trả lãi hàng quý (5,91%/năm – 6,43%/năm) và trả lãi 6 tháng một lần (6%/năm – 6,48%/năm).

Lãi suất ngân hàng Nam A Bank áp dụng với tiền gửi VND tại quầy

KỲ HẠN

LÃI CUỐI KỲ

LÃI HÀNG THÁNG

LÃI TRẢ TRƯỚC

LÃI HÀNG QUÝ

LÃI 06 THÁNG/LẦN

KKH

0,1

1 tuần

0,2

2 tuần

0,2

3 tuần

0,2

1 tháng

3,95

3,93

2 tháng

3,95

3,94

3,92

3 tháng

3,95

3,93

3,91

4 tháng

3,95

3,93

3,89

5 tháng

3,95

3,92

3,88

6 tháng

6

5,92

5,82

5,95

7 tháng

6

5,91

5,79

8 tháng

6

5,89

5,76

9 tháng

6

5,88

5,74

5,91

10 tháng

6

5,86

5,71

11 tháng

6

5,85

5,68

12 tháng

6,1

5,93

5,74

5,96

6

13 tháng (**)

5,92

5,72

14 tháng

6,6

6,37

6,12

15 tháng

6,6

6,35

6,09

6,39

16 tháng

6,6

6,34

6,06

17 tháng

6,6

6,32

6,03

18 tháng

6,7

6,4

6,08

6,43

6,48

19 tháng

6,7

6,38

6,05

20 tháng

6,7

6,36

6,02

21 tháng

6,7

6,35

5,99

6,38

22 tháng

6,7

6,33

5,96

23 tháng

6,7

6,33

5,93

24 tháng (***)

6,3

5,9

6,33

6,38

25 tháng

6,7

6,28

5,87

26 tháng

6,7

6,27

5,85

27 tháng

6,7

6,25

5,82

6,28

28 tháng

6,7

6,24

5,79

29 tháng

6,7

6,22

5,76

30 tháng

6,6

6,12

5,66

6,15

6,2

31 tháng

6,6

6,1

5,63

32 tháng

6,6

6,09

5,61

33 tháng

6,6

6,08

5,58

6,11

 

34 tháng

6,6

6,06

5,56

35 tháng

6,6

6,05

5,53

36 tháng

6,6

6,03

5,5

6,06

6,11

Nguồn: Nam A Bank

Lãi suất ngân hàng áp dụng cho tiền gửi online trong tháng này hạ 0,1 điểm % tại các kỳ hạn từ 6 tháng đến 11 tháng. Phạm vi lãi suất không đổi, dao động từ 3,95%/năm đến 6,8%/năm. Tuy nhiên sản phẩm tiết kiệm online không áp dụng với một số kỳ hạn lẻ như biểu lãi suất tại quầy.

Khi gửi tiền tiết kiệm qua hình thức online khách hàng sẽ được hưởng lãi suất cao hơn so với gửi tại quầy tại một số kỳ hạn gửi.

Mức lãi suất tiền gửi cao nhất ghi nhận được tại Nam A Bank là 6,8%/năm, áp dụng tại kỳ hạn 13 – 36 tháng đối với tiền tiết kiệm qua kênh online.

Lãi suất tiền gửi online tại ngân hàng Nam A Bank

KỲ HẠN (THÁNG)

LÃI CUỐI KỲ

01 tuần

0,2

02 tuần

0,2

03 tuần

0,2

01 tháng

3,95

02 tháng

3,95

03 tháng

3,95

04 tháng

4

05 tháng

4

06 tháng

6,2

07 tháng

6,2

08 tháng

6,2

09 tháng

6,2

10 tháng

6,2

11 tháng

6,2

12 tháng

6,7

13 tháng

6,8

14 tháng

6,8

15 tháng

6,8

16 tháng

6,8

17 tháng

6,8

18 tháng

6,8

24 tháng

6,8

36 tháng

6,8

Nguồn: Nam A Bank

Hai loại tiền điện tử phổ biến hiện nay là bitcoin và ether đã giảm lần lượt 30% và 45%, song đà giảm đã bị hạn chế đáng kể sau khi hai trong số các nhà ủng hộ tiền điện tử lớn nhất là Elon Musk của Tesla và Giám đốc điều hành Ark Invest Cathie Wood bày tỏ sự ủng hộ đối với đồng bitcoin.

Trong khi nhiều nhà phân tích cho rằng sự bùng nổ mối quan tâm dành cho tiền điện tử trong năm nay là không bền vững, thì nguyên nhân dẫn đến sự bấp bênh này là động thái từ Trung Quốc. 

Ngày 18/5, Trung Quốc đã cấm các tổ chức tài chính và thanh toán cung cấp dịch vụ tiền điện tử, đồng thời cảnh báo các nhà đầu tư về giao dịch đầu cơ tiền điện tử.

Trong ngày 19/5, có thời điểm gần 1.000 tỷ USD vốn hóa tiền điện tử đã bị “quét” khỏi thị trường. Theo công cụ theo dõi dữ liệu CoinGecko.com, trong giao dịch đầu giờ chiều, vốn hóa thị trường của tiền điện tử là 1.800 tỷ USD.

Tại các thị trường khác, việc chuyển sang tài sản an toàn hơn như trái phiếu kho bạc Mỹ có lúc đã đẩy lợi suất giảm, nhưng lợi suất đã tăng lên sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) công bố biên bản cuộc họp chính sách mới nhất.

Chủ tịch Fed tại St. Louis James Bullard từng nhận định tiền điện tử có thể rất dễ biến động.

Bitcoin, đồng tiền điện tử lớn nhất và được biết đến rộng rãi nhất, vốn đang chịu sức ép sau một loạt tweet của ông chủ Tesla. 

Hồi tuần trước, ông Musk đã đảo ngược tuyên bố chấp nhận thanh toán bằng đồng bitcoin tại hệ thống Tesla, với lý do việc “đào” bitcoin tiêu tốn nhiều năng lượng, khiến đồng bitcoin sụt giảm mạnh. Quá trình “đào” bitcoin cần rất nhiều điện để cung cấp năng lượng cho các máy tính.

Giữa làn sóng bán tháo tiền điện tử hôm 19/5, ông Musk đã tweet biểu tượng cảm xúc hình “bàn tay và kim cương”, một biểu tượng được sử dụng thường xuyên trên Reddit, ngụ ý rằng Tesla sẽ không bán số bitcoin trị giá 1,5 tỷ USD mà hãng nắm giữ.

Mike Venuto, người sáng lập kiêm giám đốc đầu tư tại Toroso Investments, công ty giám sát khối tài sản trị giá 7 tỷ USD, cho biết dòng tweet của ông Musk chắc chắn đã giúp bitcoin phục hồi.

Bitcoin đã giảm khoảng 40% giá trị từ mức cao kỷ lục 64.895 USD/bitcoin đạt được ngày 14/4. 

Trong phiên 19/5, đồng tiền này đã có lúc chạm mức thấp nhất là 30.066 USD/bitcoin và sau đó khép phiên với mức giảm 13% xuống 37.323 USD/bitcoin. Giá cổ phiếu của Tesla giảm 2,5%.

Trước tình hình này, Gavin Smith, Giám đốc điều hành của tập đoàn tiền điện tử Panxora, nói rằng việc giá bitcoin giảm mạnh không gây sốc cho thị trường. Những tài sản mà tăng giá mạnh như bitcoin đều có thể trải qua tình trạng một số nhà đầu tư bán ra chốt lời.

Một số người theo dõi tiền điện tử đã dự đoán đồng bitcoin có thể sẽ còn giảm trong tương lai và việc bitcoin trượt xuống dưới mốc 40.000 USD/bitcoin cho thấy đồng tiền điện tử này đã phá một ngưỡng kỹ thuật quan trọng.

Trong khi đó, Giám đốc điều hành ARK Wood cho biết trong một cuộc phỏng vấn với Bloomberg rằng bà vẫn tin tưởng dự báo bitcoin đạt mức 500.000 USD của mình.

Ngày 20/5, Ủy ban châu Âu (EC) đã phạt các ngân hàng hàng đầu, trong đó có UBS và Unicredit 371 triệu euro (452 triệu USD), do liên quan đến một liên minh giao dịch trái phiếu trong những năm xảy ra cuộc khủng hoảng nợ tại Khu vực đồng euro (Eurozone).

Theo quyết định do Ủy viên phụ trách vấn đề cạnh tranh của Liên minh châu Âu (EU) Margrethe Vestager công bố, các nhà giao dịch của bảy ngân hàng đầu tư đã bắt tay hợp tác trong một phòng trò chuyện trực tuyến để thao túng giá và chia sẻ thông tin nhạy cảm về cổ phiếu.

Bà Vestager nhấn mạnh hành vi trên là không thể chấp nhận được vào thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính, khi nhiều tổ chức tài chính phải nhận cứu trợ từ chính phủ, các ngân hàng đầu tư này lại “thông đồng” với nhau và gây phương hại cho các nước thành viên EU.

Bank of America và Natixis của Pháp đã thoát được án phạt do thời hạn hiệu lực, trong khi Portigon (trước đây là WestLB), hoàn toàn “rỗng ví” trong tài khóa vừa qua và không thể nộp phạt. Các đơn vị còn lại là Nomura của Nhật Bản bị phạt 129,5 triệu euro, UBS của Thụy Sỹ phải nộp 172,4 triệu euro còn UniCredit của Italy (I-ta-li-a) nộp 69,4 triệu euro.

Hồi tháng Tư, EC đã phạt Credit Suisse, Credit Agricole và Bank of America Merrill Lynch 28 triệu euro do hành vi thao túng giá trên thị trường trái phiếu định giá bằng USD.